• Full Screen
  • Wide Screen
  • Narrow Screen
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/1.jpg
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/HNV.jpg
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/dhdk.jpg
  • modules/mod_lv_enhanced_image_slider/images/H1/hdnn.jpg

Thiên Thai

Email In PDF.

 

thienthai


Ca dao Việt Nam có câu :
Trèo lên trái núi Thiên Thai
Gặp hai con phượng ăn xoài trên cây
Đôi ta được gặp nhau đây
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng
(ca dao)

Truyện Kiều của Nguyễn Du có 4 câu diễn tả nhân lúc cha mẹ và hai em vắng nhà, Kiều đánh bạo sang phòng văn của Kim Trọng:
Lần theo núi giả đi vòng
Cuối tường dường có nẻo thông mới vào
Xắn tay mở khoá động đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai
(Câu 389 đến 392)

Nàng Kiều và chàng Kim gặp nhau thì cái phòng văn của chàng Kim đối với đôi bạn tình son trẻ- trai tài gái sắc này nào có khác gì động Thiên Thai.
Thiên thai là tên một hòn núi thuộc huyện Thiên thai, tỉnh Chiết Giang ở Trung Hoa . Sách "Thần tiên truyện" chép: Đời Hán Minh đế, niên hiệu Vĩnh bình (58 sau DL) có hai chàng nho sĩ tên Lưu Thần và Nguyễn Triệu quê đất Diêm Khê. Gặp tiết Đoan Ngọ cũng gọi Đoan dương (mùng 5 tháng 5 âm lịch), theo tục lệ, người ta thường vào núi Thiên thai hái thuốc chữa bệnh. Hai chàng Lưu, Nguyễn cùng đi, nhưng chẳng may bị lạc, không tìm được lối về.
Vơ vẩn trong núi gần tháng trời mà không tìm được lối ra. Lương thực mang theo đã hết đành phải hái những quả đào chín mọng hai bên bờ suối hay ven chân núi để ăn đỡ đói, rồi vốc nước khe mà uống.
Nhìn dòng nước trong núi chảy ra, hai chàng Lưu, Nguyễn thấy có những hột cơm vừng và lá rau tươi lững lờ trôi, nên đoán chắc cách chỗ người ở không xa nữa. Cả hai bèn lần mò theo đường nước chảy, vượt qua mấy ngọn núi liền mới đến đầu ngọn khe thì thấy cây cỏ xinh tươi, phong cảnh cực kỳ đẹp đẽ. Đương ngẩn ngơ đứng nhìn bỗng nghe tiếng gọi, giọng rất thanh tao:
- Lưu, Nguyễn hai chàng sao mà đến chậm thế!
Nghe gọi đích danh mình, hai chàng cực kỳ ngạc nhiên, thì vừa lúc ấy hai cô gái rẽ hoa đi ra. Thực là đôi giai nhân tuyệt thế. Như quen biết nhau từ xưa, hai nàng ân cần mời hai chàng vào động, và xưng tên là Ngọc Kiều và Giáng Tiên. Lưu Thần và Nguyễn Triệu mừng rỡ vì được gặp người- lại người đẹp nữa, nên bằng lòng ngay.
Đến động bước vào nhìn thấy chung quanh toàn trang trí cực kỳ mỹ lệ, đâu đây thoang thoảng mùi hương. Đến bữa cơm, hai nàng dọn cơm vừng và nem dê rừng mùi vị thơm phức, mời hai chàng dùng. Tối lại, một đoàn mỹ nữ đêm mâm đào chín và rượu ngọt đến, đoạn múa hát dưng đào và rượu, chúc tụng "Chúng em xin có lời mừng tân lang và tân giai nhân nên duyên cầm sắt". Nói xong, họ lại họp nhau vừa múa vừa hát. Xiêm y lộng lẫy, điệu múa uyển chuyển, giọng hát trong trẻo dưới ánh đèn rực rỡ kết tụi ngũ sắc, hai chàng Lưu, Nguyễn say sưa cho mình hạnh phúc lạc vào cảnh tiên.
Đến khuya, tiệc tàn khách về. Hai nàng Ngọc Kiều và Giáng Tiên mời hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu cùng nâng ly chúc tụng nhau đêm tân hôn mặn nồng giữa hai nàng và hai chàng bền duyên giai ngẫu.
Say mê cảnh đẹp, đầm ấm trong tình vợ chồng, hai chàng Lưu, Nguyễn hầu như quên hẳn cảnh trần gian.
Ở đây ngày ngày tháng tháng, tiết trời ấm áp hơn xuân, không Hạ, không Thu, không Đông, đâu đâu cũng cỏ xanh hoa đẹp, bướm muôn màu nhởn nhơ bay lượn, chim hót véo von, trời trong mây thanh gió mát đượm mùi hương phảng phất quanh mình. Nhưng thời gian hai năm trôi qua, cảnh dầu đẹp, vợ dầu xinh, khí trời đầm ấm, cỏ có xanh, hoa có đẹp, bướm lượn, chim hót... cũng không sao xoá được nỗi nhớ quê nhà, nên hai chàng thỏ thẻ với vợ xin về thăm, hẹn thời gian ngắn sẽ quay trở lại. Hai nàng buồn bã ngăn hai chàng, không cho về. Nhưng lòng mơ nhớ cố hương ray rứt người lữ thứ, hai chàng cứ năn nỉ mãi. Biết không lưu chồng được, hai nàng ngậm ngùi, thở dài bảo:
- Nhờ hồng phúc tiền thân mà hai chàng được cùng chị em chúng tôi kết duyên chồng vợ, kẻ tiên người tục hoà hợp chốn Thiên Thai. Tưởng rằng duyên ưa phận đẹp, trăm ngàn năm giữ một chữ đồng. Nào ngờ hai chàng căn trần chưa dứt nên mới luyến nhớ đòi về quê cũ. Cõi trần nhỏ nhen, kiếp trần ngắn ngủi đầy hệ luỵ, hai chàng có trở về chốn trần gian thì liễu cũ hoa xưa chắc không còn được như ngày trước nữa. Chia ly ai chẳng não lòng nhưng nghiệp chướng khó mà diệt nổi.
Thế rồi hai nàng tiễn chân hai chàng ra khỏi động, bịn rịn đưa tận xuống núi. Nhìn xa xa khói lam phủ nóc nhà ai, quanh đi quẩn lại hai chàng ra khỏi núi Thiên Thai, chẳng mấy chốc xuống về quê cũ.
Cây đa cổ thụ đầu làng còn kia nhưng cảnh vật đã khác hẳn trước. Làng xóm toàn người xa lạ, không còn ai có thể nhận ra hai chàng Lưu, Nguyễn là người đồng hương nữa. Cả hai cực kỳ làm lạ. Mới cách chỉ có hai năm, sao cảnh vật lại đổi thay một cách lạ kỳ. Lối cũ không còn. trừ cây cổ thụ đầu làng giờ đã già cỗi, cành lá úa vàng chứng tỏ đã xa lâu lắm rồi và bao lần biến đổi. Bỗng gặp một cụ già tuổi đã gần trăm, hai chàng Lưu, Nguyễn đến hỏi thăm. Cụ già bèn kể lại cách đây độ 400 năm, cụ có một ông tổ bảy đời tên Nguyễn Triệu. nhân tiết Đoan Ngọ cùng bạn là Lưu Thần vào núi hái thuốc rồi biệt tích. Bấy giời Lưu Thần, Nguyễn Triệu mới biết một ngày trên tiên giới bằng một năm ở trần gian. Cả hai bơ vơ, lấy làm hối tiếc bèn rủ nhau trở lại động Thiên thai. Nhưng thảm thay, đi vòng vo, quanh quẩn... cuối cùng lại lủi thủi trở về, vì lối xưa đã lạc mất rồi .. Ở quê cũ cho đến đời Tấn Võ đế (265- 275), Lưu Thần và Nguyễn Triệu mới bỏ đi, không ai còn gặp nữa.
(trích Điển Tích Truyện Kiều- NXB Đồng Tháp)

Chùm thơ "Thiên Thai" của Tào Đường

Tào Đường tự Nghiêu Tân, người Quế Châu (tỉnh Quảng Tây). Ông vốn là một đạo sĩ, nên thơ của Ông mang tâm trạng nhàn dật, thoát ly, có tư tưởng "lạc thiên tri mệnh" , đầy phong cách thanh cao, lồng trong cảnh tiên thơ mộng, trầm lặng và êm đềm, hư hư thật thật, chan chứa khí vị Đạo Học. Thơ của ông miêu tả cảnh thiên nhiên cây cỏ sông núi như một bức tranh sơn thủy hữu tình, với màu sắc êm ái hài hòa, đã tạo nên sự thanh thoát tâm hồn, cuộc đời chỉ là vô thường ảo hóa, hữu hạn mong manh, chẳng có gì đáng bận tâm. Ông để lại những thi phẩm được truyền tụng khá nhiều, đó là : Đại Du Tiên Thi và Tiểu Du Tiên Thi . Chùm thơ "Thiên Thai" của Tào Đường gồm có 5 bài thuộc loại thơ "du tiên" miêu tả sự gặp gỡ và cách biệt giữa Lưu Thần, Nguyễn Triệu cùng hai nàng tiên ở núi Thiên Thai .

1- Lưu Nguyễn Du Thiên Thai

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân
Vân hòa thảo tĩnh, quýnh vô trần
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự
Thủy mộc không nghi mộng hậu thân
Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt
Thời thời khuyển phệ động trung xuân
Bất tri thử địa qui hà xứ
Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân
*
Tào ĐườngDịch nghĩa:
Theo hàng cây vào động Thiên Thai, lối đá còn mới
Mây êm, cỏ lặng, không vương chút bụi trần
Nhìn chốn khói mây, không nhớ những việc đã qua
Thấy cây và nước, ngỡ mình tỉnh mộng chiêm bao
Thỉnh thoảng gà gáy dưới trăng bên sườn núi
Đâu nay chó sủa trong động giữa mùa xuân
Chẳng biết nơi nay thuộc nơi chốn nào ?
Phải tới nguồn đào mà hỏi chủ nhân

* Đào nguyên : tên núi ở huyện Đào Nguyên, tỉnh Hồ Nam

Lưu Nguyễn Đi Chơi Núi Thiên Thai

Lối đến Thiên Thai đá trắng ngời
Cỏ cây thanh khiết nhẹ mây trôi
Lãng quên kiếp trước mờ sương khói
Tỉnh giấc mơ này cây nước thôi
Xao xác gà kêu trăng dưới núi
Đâu đây chó sủa động xuân tươi
Ở đây chẳng biết nơi nào nhỉ ?
Chắc đến Đào Nguyên gặp hỏi người ..

Hải Đà phỏng dịch
2- Lưu Nguyễn Động Trung Ngộ Tiên Tử

Thiên hòa thụ sắc ái thương thương
Hà trọng lam thâm lộ diểu mang
Vân đậu mãn sơn vô điểu tước
Thủy thanh duyên giản hữu sinh hoàng *
Bích sa động lý càn khôn biệt
Hồng thụ chi biên nhật nguyệt trường
Nguyện đắc hoa gian hữu nhân xuất
Miễn linh tiên khuyển phệ Lưu Lang

Tào ĐườngDịch nghĩa:
Da trời với sắc cây chen lẫn thành màu xanh biêng biếc
Ráng nặng nề, khí u ám, đường đi vời vợi mênh mang
Mây phủ đầy núi vắng bóng chim sẻ
Nước chảy trong khe như tiếng sáo thổi
Cát biếc trong động tạo một khung trời riêng
Lá đỏ bên cây, ngày tháng dài đăng đẳng
Ước gì trong hoa có người xuất hiện
Để chó tiên khỏi phải sủa chàng Lưu

* Sinh hoàng : "sinh" là loại nhạc khí làm bằng quả bàu có những ống nhỏ khi thổi phát ra tiếng, "hoàng" là mảnh đồng trong ống "sinh"

Lưu Nguyễn Gặp Tiên Trong Động

Trời, cây xanh biếc mượt như nhung
Khói tỏa âm u lối mịt mùng
Đầy núi mây che chim vắng vóng
Trong khe nước chảy tiếng tiêu vàng
Cát xanh hang rộng khung trời biếc
Lá đỏ cành tươi mãi tháng năm
Mong ước trong hoa người xuất hiện
Chó tiên đâu dám sủa chân chàng

Hải Đà phỏng dịch
3- Tiên Tử Tống Lưu Nguyễn Xuất Động

Ân cần tương tống xuất Thiên Thai
Tiên cảnh na năng khước tái lai !
Vân dịch ký quy tu cưỡng ẩm
Ngọc thư vô sự mạc tần khai
Hoa lưu động khẩu ưng trường tại
Thủy đáo nhân gian đinh bất hồi
Trù trướng khê đầu tòng thử biệt
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài

Tào Đường

Dịch nghĩa:
Ân cần tiễn nhau ra khỏi động Thiên Thai
Cõi tiên đã đi rồi khó mà trở lại lần nữa
Đây rượu tiên (vân dịch) người về hãy cố uống đi
Lá thư quí (ngọc thư) nếu không việc gì chớ mở luôn
Hoa cửa động vẫn còn tươi thắm mãi
Nước chảy về trần không bao giờ trở lại
Bần thần xót xa bên đầu suối, từ nay ly biệt
Trên núi biếc chỉ còn ánh trăng sáng soi rêu xanh

* câu 5 và 6 : “ Hoa lưu cửa động, nước xuôi cõi trần “
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Tiên Nữ Tiễn Đưa Lưu Nguyễn Rời Động

Tiễn biệt Thiên Thai quyến luyến sầu
Cõi tiên lưu lạc khó tìm nhau
Rượu thần vui gượng xin người uống
Thư quí chưa cần chớ mở mau
Trước động hoa tươi còn thắm thiết
Xuống trần nước chảy chẳng về đâu
Xót xa bên suối sầu ly biệt
Núi biếc trăng soi loáng bạc màu

Hải Đà phỏng dịch
4-Tiên Tử Động Trung Hữu Hoài Lưu Nguyễn

Bất tương thanh sắt lý nghê thường *
Trần mộng na tri hạc mộng trường
Động lý hữu thiên xuân tịch tịch
Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang
Ngọc sa dao thảo liên khê bích
Lưu thủy đào hoa mãn giản hương
Hiểu lộ phong đăng dị linh lạc
Thử sinh vô xứ vấn Lưu Lang !

Tào Đường

Dịch nghĩa:
Không còn ai đem đàn sắt ra gãy khúc Nghê Thường nữa
Người trong mộng trần gian đâu biết mộng tiên dài
Trong động riêng một bầu trời, cảnh xuân yên ắng
Trần gian không có lối về, ánh trăng mênh mang
Trên bãi cát ngọc cỏ tiên xanh biếc ven khe
Theo nước cuốn trôi hoa đào tỏa hương thơm ngát khắp suối
Hạt sương mai, ngọn đèn trước gió dễ tiêu tan
Kiếp này không biết nơi nào để hỏi tìm chàng Lưu

* Nghê thường : "Nghê thường vũ y khúc" là tên nhạc khúc đời Đường Minh Hoàng .

Tiên Nữ Trong Động Nhớ Lưu Nguyễn

Gãy khúc nghê thường chẳng có ai
Mộng trần đâu biết mộng tiên dài
Trời riêng góc động xuân yên ắng
Nẽo khuất dương trần nguyệt úa phai
Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc
Suối thơm đào ngát nước xanh trôi
Mỏng manh sương sớm đèn trong gió
Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai ?

Hải Đà phỏng dịch
5- Lưu Nguyễn Tái Đáo Thiên Thai
Bất Phục Kiến Chư Tiên Tử

Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân
Thương đài, bạch thạch dĩ thành trần
Sinh ca tịch mịch nhàn thâm động
Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân
Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc
Yên hà bất tự vãng niên xuân
Đào hoa lưu thủy y nhiên tại
Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân

Tào Đường

Dịch nghĩa:
Lại tìm đến Thiên Thai thăm hỏi Tiên nữ Ngọc Chân
Rêu xanh đá trắng đã thành tro bụi rồi
Tiếng đàn ca không còn nữa trong động sâu im vắng
Xóm cũ hoang liêu vắng bóng mây và hạc
Cây cỏ không còn giữ màu tươi thắm ngày trước
Ráng khói đìu hiu không giống cảnh xuân năm nào
Hoa đào bên giòng nước chảy vẫn còn y như cũ
Không còn thấy người hầu rượu cho mình lúc bấy giờ …

Lưu Nguyễn Trở Lại Thiên Thai
Nhưng Không Còn Gặp Tiên

Lại tìm Tiên Nữ động Thiên Thai
Đá trắng rêu xanh bụi phủ đầy
Lặng lẽ hang sâu im tiếng nhạc
Đìu hiu xóm quạnh vắng chim bay
Tàn phai sắc cũ hờn cây cỏ
Hờ hững xuân xưa chạnh khói mây
Nước chảy hoa đào phơ phất đó
Cố nhân hầu rượu chẳng còn đây !

Hải Đà phỏng dịch
Thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn :Lý Thương Ẩn ngoài những bài thơ vịnh sử nói nên sự hưng vong thăng trầm của các triều đại, phê phán đả kích những xấu xa của đám quan liêu phong kiến, ông còn sáng tác nhiều bài thơ tình , và nổi tiếng trong lãnh vực nầy khi ông đã nói lên sự khao khát nhung nhớ, niềm mơ ước của hạnh phúc lứa đôi, tình cảm tha thiết và hàm súc vô cùng . Chùm thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn gồm 6 bài tình ý sâu sắc, gợi cảm lôi cuốn, tiết tấu nhịp nhàng, âm điệu nhẹ nhàng tinh tế xen lẫn thê lương não nuột .
Những bài thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn đã nói lên cảnh thương đau xót xa ly biệt của hai kẻ yêu nhau mà phải cách xa nhau "biệt dị hội nan" ( chia ly thì dễ, gặp nhau thì khó). Nhà thơ đã đem lại sự hồi tưởng tiếc thương ngậm ngùi, với giấc mộng xuân đã qua mau bất chợt …như một tuồng vân cẩu, một giấc mơ ngắn ngủi , cho kẻ yêu nhau phải xa nhau với sự nhớ nhung oán trách giận hờn . Bài thơ Vô Đề 1 và 3 tác giả đã dùng chốn tiên cảnh "Non Bồng" làm hình tượng tươi mát sống động để vẽ nên một khung cảnh đầm ấm sum họp nhưng đó chỉ là một ảo ảnh của giấc mơ tiên với cảnh "bồng lai" mịt mùng xa cách trùng khơi như câu chuyện của chàng Lưu đã một lần đến được Thiên Thai, rồi phải vĩnh biệt Thiên Thai muôn đời để mãi ngậm hờn than trách : "Lưu lang dĩ hận Bồng lai viễn" (Chàng Lưu oán hận vì phải cách xa chốn Bồng Lai)

Vô Đề – Kỳ Nhất

Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung
Nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung
Mộng vi viễn biệt đề nan hoán
Thư bị thôi thành mặc vị nùng
Lạp chiếu bán lung kim phí thúy
Xạ huân vi độ tú phù dung
Lư u lang dĩ hận Bồng sơn viễn
Cách cách Bồng sơn nhất vạn trùng

Lý Thương Ẩn

Thơ Không Đề – Bài Một

Nàng đến rồi đi cách biệt nhau
Lầu trăng chênh chếch điểm chuông sầu
Cơn mơ ly biệt lời chưa tỏ
Thư viết vừa xong mực úa màu
Ánh nến mờ soi chim phỉ thúy
Xạ hương thơm ngát bức màn khâu
Chàng Lưu hận núi Bồng xa thẳm
Vạn dặm non Bồng chẳng thấy đâu

Hải Đà phỏng dịch
Vô Đề – Kỳ Tam

Tương kiến thời nan, biệt diệc nan
Đông phong vô lực bách hoa tàn
Xuân tàm đáo tử, ti phương tận
Lạp cự thành hôi, lệ thủy can
Hiểu kính dãn sầu vân mấn cải
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị tham khan

Lý Thương Ẩn

Thơ Không Đề – Bài ba

Khó dễ gần nhau, khó cách xa
Gió xuân bất lực rũ tàn hoa
Ruột tằm đứt đoạn tơ còn vướng
Giọt nến thành tro lệ bớt nhòa
Sớm ngắm gương buồn, đầu điểm bạc
Đêm ngâm thơ trách, lạnh trăng tà
Bồng lai mấy dặm không là mấy
Chắc hẳn nhờ chim dẫn lối qua

Hải Đà phỏng dịch
Hình Ảnh Thiên Thai trong thi ca Việt Nam :Đặt tên cho hòn núi là Thiên Thai thì có thể được. Nhưng vào núi "Thiên Thai" để có một cuộc sống thần tiên như Lưu Thần và Nguyễn Triệu thì chỉ là chuyện hoang tưởng trên cõi đời nầy . Chữ "thiên thai" cũng chỉ là một biểu tượng để diễn tả cảnh tiên hư ảo mà chúng ta vẫn thấy trong thi ca.
Thi hào Nguyễn Du trong thi tập Nam Trung Tạp Ngâm có bài thơ Vọng Thiên Thai Tự nói về núi Thiên Thai ở phía đông thành Huế . Bài thơ sáng tác vào thời gian 1805-1812 khi Ông được thăng hàm Đông các học sĩ , làm quan ở kinh đô 5 năm .

Vọng Thiên Thai Tự

Thiên Thai sơn tại đế thành đông
Cách nhất điều giang tự bất thông
Cổ tự thu mai hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung
Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng do quải cựu thời chung .

Nguyễn Du
(Nam Trung Tạp Ngâm)

Nhìn Lên Chùa Thiên Thai

Thành Đông chót vót núi Thiên Thai
Cách một dòng sông lối rẽ hai
Chùa cổ lá vàng nghiêng mái phủ
Triều xưa sư lão trắng mây bay
Gian nan đầu bạc hoài thương tiếc
Chung thủy non xanh chẳng đoái hoài
Năm trước đến đây còn nhớ lại
Cảnh Hưng* chuông cổ vẫn treo đài

Hải Đà phỏng dịch*thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786)Thi sĩ Đông Hồ, ngoài những bài thơ nhẹ nhàng, trữ tình man mác, nguồn thơ cảm hứng từ người yêu trong mộng "Mặt em âu yếm nét nên thơ , Hồi hộp nhìn anh em ngẩn ngơ , E ấp, môi em kề cận má , Ái tình ngan ngát vị say sưa – Đ. H." , đôi khi người thơ cũng ngây ngất giữa mộng và thực, tỉnh và mơ . Cái tư tưởng thoát tục với niềm mơ ước hoài vọng đôi tình nhân son trẻ đựợc lên chốn thiên thai cõi tiên để chung hưởng nguồn hạnh phúc vô biên, với tuổi xuân xanh vẫn muôn đời bất diệt qua thơ của thi sĩ Đông Hồ :

Cung nguyệt lầu mây, ta với ai
Làm đôi tiên khách ở Thiên thai
Ngàn xuân thu vẫn còn xinh trẻ
Cười cợt hoa chiều, giỡn gió mai

(Đông Hồ)

Thế Lữ hồi nhỏ đã sống ở Lạng Sơn , nơi núi sông hùng vĩ, âm u, với những cảnh thiên nhiên huyền ảo kỳ lạ, đã gây những ấn tượng sâu sắc, độc đáo ảnh hưởng sự nghiệp thi văn của tác giả . Điều nầy có thể thấy qua những câu truyện trinh thám ly kỳ rùng rợn của ông . Những nguồn cảm hứng phong phú kỳ lạ của ông có thể tác động mạnh vào trí tưởng tượng của người nghệ sĩ vốn bản chất thông minh từ nhỏ, và cũng là người đa sầu đa cảm . Khuynh hướng lãng mạn thoát tục cũng xuất hiện qua dòng thơ của Thế Lữ , trong bài Tiếng Sáo Thiên Thai, Thế Lữ đã muốn tạo dựng một khung cảnh Thiên Thai thoát tục ngay giữa cõi trần ô trọc phù phiếm nầy, để giải thoát tâm hồn . Những cõi Thiên Thai của ông có thể chỉ là biểu tượng của cái đẹp tâm linh, ảo diệu và thanh khiết :

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! xa vắng, mênh mông là buồn...
Tiên Nga tóc xõa bên nguồn.
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.
Trời cao, xanh ngắt. -- Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng-lai.
Theo chim, tiếng sáo lên khơi,
Lại theo giòng suối bên người Tiên-Nga.
Khi cao, vút tận mây mờ,
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh,
Êm như lọt tiếng tơ tình,
Đẹp như Ngọc-Nữ uốn mình trong không,
Thiên-Thai thoảng gió mơ mòng,
Ngọc-Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay...

Tiếng Sáo Thiên Thai (Thế Lữ)

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã phổ nhạc bài thơ này của Thế Lữ . Theo lời của nhạc sĩ Phạm Duy (trong bài viết "Với các thi sĩ tiền chiến") :Tiếng Sáo Thiên Thai, thơ Thế Lữ phổ nhạc, là một thử thách bắt thơ phải theo nhạc hơn là bắt nhạc phải theo thơ .. Đây là một bản tango nhẹ, nhịp điệu rất ư dìu dặt, man mác, lơ lửng và thần tiên …

"Tiếng Sáo Thiên Thai
nhạc sĩ: Phạm Duy
thơ/lời: Thế Lữ

Xuân tươi!
Êm êm ánh xuân nồng,
Nâng niu sáo bên rừng,
Dăm ba chú Kim đồng . . .
(Hò xàng xê) Tiếng sáo,
Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng,
Nhạc lòng đưa hiu hắt,
Và buồn xa buồn vắng,
Mênh mông là buồn!

Tiên nga, buông lơi tóc bên nguồn,
Hiu hiu lũ cây tùng,
Ru ru tiếng trên cồn . . .
(Hò ơi làn) Mây ơi!
Ngập ngừng sau đèo vắng,
Nhìn mình cây nhuộm nắng,
Và chiều như chìm lắng,
Bóng chiều không đi...

Trời cao xanh ngắt! Ô... kìa!
Hai con hạc trắng (ư) bay về (ề) nơi nao?
Trời cao xanh ngắt! Ô... kìa! Ô ... kìa!
Hai con hạc trắng bay về, về Bồng Lai!(Đôi) Chim ơi,
Lên khơi sáo theo vời
Hay theo đến bên người,
Tiên nga tắm sau đồi . . .
(Tình tang ôi) Tiếng sáo,
Khi cao, cao mờ vút,
Cùng làn mây lờ lững,
Rồi về bên bờ suối,
Cây xanh mờ mờ . . .

Êm êm, ôi tiếng sáo tơ tình,
Xinh như bóng xiêm đình,
Trên không uốn thân hình . . .
(Đường lên, lên) Thiên Thai!
Lọt vài cung nhạc gió,
Thoảng về mơ mộng quá,
Nàng Ngọc Chân tưởng nhớ,
Tiếng lòng bay xa . . .

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương của tập thơ Say, đầy ngao ngán. chán chường, đã muốn tìm quên trong tận cùng của cảm giác . Giữa đỉnh say của cuồng loạn, du dương, lai láng hồn thơ, cũng đã đắm chìm trong cõi mộng bao la, mơ màng, theo khúc Thiên Thai trầm bổng , mê hoặc ru hồn :

Hãy dừng đây Chàng Say ơi
Cùng lận đận bên trời một lứa
Đêm Hoa Đăng vắng Chàng thoi thóp lửa
Tiếng đàn xênh rời rạc khúc Thiên Thai
Hãy dừng đây sương gió lạnh bên ngoài

Dâng Tình (Vũ Hoàng Chương)

Đàn rưng rưng lệ phách dồn mưa
Tiếng hát tàn rơi hận thuở xưa
Bụi nhuốm Thiên Thai nhòa hứng rượu
Đời sau say giúp mấy cho vừa
Cô đơn men đắng sầu trăng bến
Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa
Nhịp đổ càng mau nghe ríu ríu
Tê rời tay ngọc lúc buông thưa

Dựng (Vũ Hoàng Chương)

Trăng nhô liềm bạc núi Thiên Thai
Ta nhớ chiều xưa Vọng mỹ đài
Cặp mắt là đây, tiền kiếp nhé
Vành cong cong vẽ nguyệt sơ khai

Hương Rừng (Vũ Hoàng Chương)

Hàn Mạc Tử là một thi sĩ phiêu du với mộng ảo, lãng đãng trong chiêm bao của sương khói vô hình . Trong một bài thơ Duyên Kỳ Ngộ của Ông, trong đó có 4 nhân vật là : Suối, Chim, Chàng và Nàng đã đối thoại với nhau, đã đề cập đến những nơi chốn hư ảo như Đào Nguyên , Thiên Thai …. Giọng điệu thơ có những lúc bâng khuâng êm ái, những khi nao nức rạo rực, đôi khi là nỗi thiết tha khắc khoải một cách lạ lùng :

Duyên Kỳ Ngộ (Hàn Mặc Tử)

Tiếng Suối Reo
Đâu gió lên tầng mây che mắt lạ
Ta muôn năm len lỏi ở Đào Nguyên
Nước trong sáng lòng ta thơm vô giá
Sao không ai đi lạc tới non tiên? Để ta dâng, ta mời ai giải khát
Nếm cho bưa mùi vị nước trường sinh
Ồ tiếng tiêu đâu bay ra man mác
Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.

……………………………………..
Nàng
Mây bay theo với mây bay
Mình sao ra nước non này mà chơi
Sáo ơi, dìu dặt khơi vơi
Buông mau âm điệu để mời nhân gian
Nắng cao ý muốn lan tràn
Ở đây vắng vẻ cây ngàn suối reo
Chim ơi hót khúc tương giao
Có người thục nữ lần vào Thiên Thai
Không gặp ai, chửa gặp ai
Duyên còn ngậm kín, tình hoài miên man
Tiêu tao đến nỗi bẽ bàng
Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ

 



THƠ SONG NGỮ

Tuyển Tập

Thiên Thai

Tỳ Bà Hành

Bạch Cư Dị
Hải Đà sưu tập và biên soạn

Phong Kiều Dạ Bạc

Cởi Áo Tắm Mưa

Nhạc Nguyễn Đăng Tuấn
Thơ Vương Ngọc Long

Ý Cúc Tình Thơ

Bao Giờ Em Biết

Tản Mạn Về Hoa Quỳnh

Khảo Luận*Những vần thơ
Nhạc*Tập ảnh và tranh họa

Vọng Phu Thạch

Tĩnh Dạ Tứ - Lý Bạch

Nhạc phẩm Tĩnh Dạ Tứ
Thơ Hải Đà, Nhạc Mai Đức Vinh

Trường Tương Tư .

Hồi Hương Ngẫu Thư

Nhạc Mai Đức Vinh
Ca sĩ Bảo Yến trình bày

Thái Liên Khúc

Khúc Hát Hái Sen
Thái Nhã Vân bên hồ sen

Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang

Bản dịch của các thi hữu
Thơ phỏng dịch Hải Ðà
Nhạc: Mai Ðức Vinh

Tương Tiến Tửu

Say Trong Đường Thi

CD Đã Xuất Bản

Please wait while JT SlideShow is loading images...
Em như cành mẫu đơnLầu Thơ Vút Cánh Hạc VàngGiọt Thơ BuồnQuên Bao Giờ Em BiếtNỗi Nhớ Chưa XaTình TồiCởi Áo Tắm MưaMộng Ngày Thơ